Một ngày mùa xuân hoa nở tung trời, những con đường đang
biêng biếc bởi những cây bàng dã trút hết những chiếc lá đỏ, lá vàng của mình
thì tôi tình cờ gặp cô gái đó.
Cô gái có dáng dấp nhỏ nhoi đang đi dưới gốc bàng to đang
non nõn lá nằm bên bãi biển. Mái tóc cô gái thỉnh thoảng lại tung lên bởi những
ngọn gió thổi. Cô gái xinh đẹp ấy chỉ đi một mình, đôi chân trần cứ dẫm lên bãi
cát, rồi lại lùi ra xa.
Tôi nhìn thấy cô gái đang lúi cúi tìm kiếm những vỏ ốc
nào trên bãi biển này. Bởi đơn giản đây là bãi biển du lịch, mỗi năm có hàng
ngàn lượt người đến và đi.
Nếu có một vỏ ốc xinh đẹp nào còn sót lại trên bãi biển thì
họ cũng đã nhặt mất rồi.
Tôi ngắm nhìn cô bé
đang đi tìm vỏ ốc, rồi bỗng nghĩ ra đến một kế sách. Tôi đang mang rất nhiều vỏ
ốc trong túi xách của mình vì có mấy anh bạn ở Hà Nội ghé chơi, dặn dò tôi vào
nơi sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ, lựa mua cho các anh những vỏ ốc vẫn còn dáng
dấp của biển cả.
Ý của các anh bạn muốn chứng tỏ cho người các anh thương yêu
là các anh đã nhặt những vỏ ốc đó trên bãi biển chứ không phải mua ở các cửa hàng. Thế là tôi cầm theo một con ốc
biển, đó là con ốc tù và mà theo huyền
thoại trong vỏ ốc ấy có cả tiếng vỗ về của những con sóng, còn khi chụm miệng
vào vỏ ốc mà thổi thì sẽ phát ra những âm thanh như một bản giao hòa của những
ngọn gió đang chạm vào những vách núi cùng tiếng vỗ của những con sóng.
Tôi rời bàn nước, đi theo sau cô bé, rồi thả con ốc biển xuống
bãi cát. Tôi lấy bàn chân tung cát lấp một phần con ốc như nó vừa được sóng biển
đánh dạt lên. Kịch bản con ốc biển của tôi thật hoàn hảo khi tôi nói như reo thật
to: “A, có một con ốc biển”. Tôi nhặt con ốc lên và ném về phía trước mặt cô
bé. Tất nhiên là cô bé đã nhặt lại con ốc tù và xinh đẹp kia. Và cũng sau buổi
chiều hôm đó, cô bé đã mang theo con ốc tù và về thành phố nào đó của cô bé,
còn tôi thì lại lãng quên một buổi chiều trôi qua như biết bao buổi chiều đã
trôi qua trong cuộc đời.
Tôi nhắc đến câu chuyện
cô bé đi tìm một con ốc trên bãi biển ấy là bởi vì chính cô bé đã gợi nhớ cho
tôi về hình ảnh của một người con gái khác. Trong cuộc sống muôn trùng, những kỷ
niệm này chồng lên kỷ niệm khác, phả lấp trong lòng ta sự lãng quên, sự xuất hiện
của một bóng hình này khiến trái tim ta lại chao về một bóng hình khác, như một
sự nhắc nhở.
Người con gái ấy tên là Thùy Mi. Thùy Mi, cái tên thật lạ
khiến cho bất cứ người nào cũng không thể quên được ấy đã có duyên với tôi trên
một con tàu, chính xác hơn là trên một chuyến đi biển.
Năm đó, tôi có một
chuyến đi Bình Thuận. Với tôi, Bình Thuận là sự bí ẩn và lạ lùng, và tôi luôn
nôn nóng được một lần theo một con tàu ra quần đảo Phú Quý. Địa danh này còn có
một tên gọi khác là Cù Lao thu, khá xa đất liền, muốn đến được đó cũng mất cả 5
đến 7 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển.
Vì hòn đảo rộng trên 100 ha này cách thành phố Phan Thiết tới
110 km. Rất nhiều người muốn đến hòn đảo này để khám phá những bãi đá, những địa
danh rất lạ như: Hòn Trứng, Hòn Đỏ, Hòn Giữa, Hòn Đen…
Chuyến đi của tôi thành hình khi tôi đi theo đoàn khách du lịch
tham quan Phú Quý kéo dài một tuần lễ. Đảo lớn với các làng chài, với những con
thuyền neo đậu và có cả những nơi buôn bán khá sầm uất tạo cho tôi một cảm giác
lạ.
Thùy Mi xuất hiện
trong chuyến đi ấy ngẫu nhiên, như thể định mệnh đã xếp đặt cho tôi và Thụy Mi
gặp nhau. Thụy Mi là hướng dẫn viên của công ty du lịch ở Phan Thiết được cử đi
theo đoàn hướng dẫn cho du khách.
Cô gái có dáng người nhỏ nhắn, mái tóc dài óng mượt thả lửng
bờ vai, nước da trắng như không hề ảnh hưởng đến nắng gió ở thành phố miền
trung này. Khi bắt gặp thụy Mi trên con tàu, trái tim của tôi đã chao đảo, bởi
vì Thụy Mi đúng là mẫu con gái tôi vẫn thường đặt ra cho người yêu tương lai của
mình.
Thụy Mi đã làm cho cả con tàu vui nhộn lên theo cách khơi động
niềm vui của mọi người trong cuộc hành trình dễ làm cho con người mệt nhoài vì
lênh đênh trên biển dài ngày. Đi Phú Quý, chúng tôi tò mò hình dung ra một làng
chài, nhưng cô hướng dẫn viên Thụy Mi lại kể chuyện lịch sử khiến cho chúng tôi
vui hơn. Thụy Mi kể về hòn đảo Bàng Tranh : Vào thời vua Chế Củ vương triều
Chăm Pa, nàng công chúa Bàng Tranh do không nghe lời vua cha nên đã bị ông đày
ra hòn đảo này. Khi bị đày ra nơi hoang vu, công chúa cùng những nô tỳ đi theo
đã phải tự vỡ đất trồng trọt, nuôi gia súc mà sống cho đến cuối đời, được chôn
cất ở đây. Sau đó, nhiều người mới đến hòn đảo lập nghiệp, lập đền thờ, tạc tượng
công chúa Bàng Tranh bằng san hô, theo thời gian đã không còn mà chỉ còn cái
tên đảo Bàng Tranh.
Cái thú đi xem đồi mồi
đẻ trứng của du khách ở đảo Bàng Tranh mới là điều thú vị. Nhưng tất cả đoàn chẳng
có ai đi, chỉ có mỗi mình tôi. Thế là tôi và Thụy Mi cùng ra bãi cát đợi xem đồi
mồi đẻ. Và chính đêm hôm đó Thụy Mi gặp nạn. Trong ánh sáng mờ mờ của ánh trăng
non, Thụy Mi và tôi đã leo lên một mỏm đã cao để tìm cách tiếp cận những con đồi
mồi lợi dụng bóng đêm từ dưới biển lên đào cát để đẻ trứng.
Không may là Thụy Mi đã bị trượt chân, và kết quả là Thụy Mi
đã bị trật bàn chân phải.
Thụy Mi không thể nào đi được, thế là dưới vầng trăng non,
tôi đã cõng Thụy Mi trở về nơi đoàn đang nghỉ ngơi. Rồi một cơn mưa bất chợt đổ
về trên đảo. Con đường vè mù mịt, chỉ có ngọn đèn pin của hai đứa chúng tôi là
le lói.
Lạnh, chỉ còn cách duy nhất là cả hai chen vào một hốc đá chật
hẹp đợi cho cơn mưa ngưng. Thụy Mi lạnh, tôi cũng lạnh. Hai đứa đã ôm nhau
trong cái lạnh khắc nghiệt định mệnh đó. Tôi không cưỡng lại lòng, đặt đôi môi
mình lên đôi môi đang tái nhợt vì lạnh của Thụy Mi. Nụ hôn òa vỡ của một cuộc
tình.
Tình yêu của chúng
tôi cũng đã chớm nở từ trong đêm đó. Cũng trong đêm đó, tôi được biết hôm đó
cũng là ngày cuối cùng Thụy Mi làm hướng dẫn viên du lịch. Vì em chuẩn bị đi
sang Mỹ đoàn tụ gai đình.
Tôi và Thụy Mi chỉ gặp nhau một lần duy nhất trong cuộc đời
hai người như thế. Nửa tháng sau, tôi trở lại Phan Thiết, tìm đến chỗ làm của
Thụy Mi thì biết rằng em đã ra đi.
Một chuyến bay lặng lẽ nào đó đã bứt lìa cô gái vai gầy, mái
tóc dài của tôi đi xa biệt..
Điện thoại của tôi hiện
lên một số lạ. Tôi rất cẩn thận để lưu vào trong máy của mình tất cả những số
điện thoại của bất cứ ai dẫu họ chỉ gọi tôi một lần. Rất đơn giản là có một lúc
nào đó, họ sẽ gọi lại và có thể tôi sẽ cần gọi đến họ. Nhưng số điện thoại
không ghi tên người chắc chắc là số điện thoại gọi tôi lần đầu. Đó là cuộc điện
thoại hẹn tôi.
Tôi đến chỗ hẹn đúng
giờ. Cô gái xuất hiện khiến cho trái tim tôi như co thắt lại. Đó là cô gái lang
thang trên bãi biển và đã nhặt chiếc vỏ ốc tù và tôi giả vờ đánh rơi bên thềm
cát biển. Tôi càng giật mình hơn nữa khi nhìn thẳng vào cô gái. Cô có khuôn mặt
như Thụy Mi. Suýt tí nữa thì tôi đã la lên : “Cô gái nhặt vỏ ốc”.
Hai ly cà phê đem ra,
những giọt cà phê cứ lặng lẽ rơi xuống, lặng lẽ như câu chuyện của Thụy vân kể.
Thụy vân – tên cô gái đó, không ai khác hơn là cô em út của Thụy Mi.
Buổi sáng nắng loang loang trên mặt biển. Nắng cứ òa tràn
làm chói lòa những đôi mắt ngó. Thụy Vân nói: “Em đã đến công ty du lịch, tìm
mãi mới ra danh sách khách đi ra đảo Phú Quý hôm có mặt anh. Từ đó, em mới tìm
ra được nơi anh làm việc, và em đã có số điện thoại của anh”.
Giọng Thụy vân trầm ấm:
“Chị Thụy Mi đã qua đời cách đây 6 tháng. Chị bảo khi nào về nước hãy tìm anh,
nói rằng chị rất yêu anh. Chị có gửi cho em một vỏ ốc chị nhặt được ở đảo Phú
Quý, chuyến đi anh và chị quen nhau đó. Nhưng em lại bỏ lạc đâu rồi!”
Thụy Vân lấy trong túi xách ra chiếc vỏ ốc mà tôi giả vờ
đánh rơi.
-
Chiếc vỏ ốc này em nhặt trên bãi biển. Coi như của
chị Thụy Mi gửi anh, anh nhé.
Tôi cầm chiếc vỏ ốc lên. Như một
phản xạ, tôi đưa tay bịt nó lại, và thổi. Tiếng vỏ ốc loang ra trong không gian
ấy như tiếng của Thụy Mi năm nào: “sao em lạnh quá!”.
Tôi bỗng nghĩ đến những giọt nước
đã không trở về với biển cả.
Khuê Việt Trường